Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

Viral Marketing (Marketing lan truyền)


Viral Marketing (Marketing lan truyền)
Viral Marketing (Marketing lan truyền)
Giống như cách thức lan truyền của một con virus. Hình thức quảng cáo này bắt đầu từ giả thuyết một khách hàng luôn kể cho người khác nghe về sản phẩm hoặc dich vụ của bạn mà khách hàng cảm thấy hài lòng khi sử dụng. Viral Marketing mô tả chiến thuật khuyến khích một cá nhân nào đó lan truyền một nội dung tiếp thị, quảng cáo đến những
người khác, tạo ra một tiềm năng phát triển theo hàm mũ sự lan truyền và ảnh hưởng của một thông điệp như những con vi rút.
Các chiến dịch như vậy đã lợi dụng vào sự nhân rộng nhanh chóng để làm bùng nổ một thông điệp đến hàng ngàn, hàng triệu lần.
Nhưng để tạo ra một chiến dịch Viral Marketing có hiệu quả thì thật sự không dễ chút nào, bạn cần phải làm cho “virus” của mình là duy nhất, lôi cuốn, nó phải mang tính cá nhân và được truyền đi bằng sự cộng tác “đôi bên cùng có lợi”…

Theo kết quả thống kê của một công trình nghiên cứu thì chỉ có:
  • 18% quảng cáo trên ti vi tạo ra một tỉ lệ hoàn vốn đầu tư khả quan.
  • 84% các chiến dịch B2B mang lại mức doanh thu ngày càng thấp.
  • 100% việc đầu tư thêm vào quảng cáo chỉ để tạo ra thêm 1% - 2% doanh thu.
  • 14% người tiêu dùng tin vào quảng cáo.
  • Và 69% người tiêu dùng thích công nghệ ngăn chặn quảng cáo
Từ các số liệu “biết nói” này đã cho chúng ta nhận thấy rằng: Tiếp thị và quảng cáo truyền thống ngày càng trở nên lộn xôn, không đáng tin cậy; kém hiệu quả, chi phí cao hơn mà tỉ lệ hoàn vốn đầu tư lại thấp. Một triết lí đơn giản là: “...bất kì một chiến lượt Marketing tốn tiền bac nào mà không tạo ra tiền cho bạn đều là một chiến dịch Marketing phí tiền bạc…” (Kirk Cheyfitz, CEO, Story Worldwide); và kèm theo đó các nhà nghiên cứu cũng đã phát hiện ra một điều thú vị: trung bình thì một người có: 11 - 12 mối quan hệ mật thiết, khoảng 150 mối quan hệ xã hội, và từ 500 đến 1500 các quan hệ lỏng lẻo khác… Chính vì vậy, mà các nhà kinh tế đã tìm ra một “giải pháp” mới cho ngành tiếp thị hiện nay và nó đã dần dần khẳng định được sức mạnh của mình – “Sức mạnh của Word Of Mouth Marketing”.

Lợi thế InterBrand Media trong việc thực hiện Viral Marketing:

  • Hoạch định rõ ràng thông điệp, chủ đề, người truyền tin... trước khi thực hiện.
  • Có số lượng lớn dữ liệu đến vài triệu khách hàng
  • Đội ngũ cộng tác viên am hiểu thế giới Online để đẩy nhanh thông điệp quảng cáo
  • Bằng việc quảng cáo 2.0 trên sẽ giúp sản phẩm, thông điệp của bạn nhanh chóng đi vào thị trường với chi phí rẻ và hiệu quả... trong một chiến lược Marketing hiện đại.

VinhLam -  www.InterBrandMedia.com

Những con số thú vị về Internet và mạng xã hội

nternet và mạng xã hội là những khái niệm đã trở nên quá quen thuộc ngày nay. Tuy nhiên, có những con số thống kê thú vị xung quanh những khái niệm nay mà có thể bạn chưa biết. Hãy cùng khám phá qua bài viết dưới đây.
Cùng với sự bùng nổ của Facebook, mạng xã hội đã trở thành một khái niệm quá đỗi quen thuộc với người dùng Internet. Cùng với đó, sự phát triển của những công nghệ kết nối Internet tốc độ cao, Internet và các dịch vụ trực tuyến ngày càng phát triển nhanh chóng.
 
Hãy cùng điểm qua những con số thống kê thú vị về mạng xã hội và Internet qua bài viết dưới đây:
 
- Mạng xã hội đã vượt qua các nội dung khiêu dâm để trở thành hoạt động được quan tâm nhất trên Internet hiện nay.
 
- Theo thống kế về lưu lượng Internet của năm 2010, mạng xã hội Facebook đã vượt qua “gã khổng lồ” Google để trở thành trang web có lượng truy cập lớn nhất tại Mỹ trong năm 2010.
 
Facebook đã vượt qua Google để trở thành trang web có lượng truy cập lớn nhất tại Mỹ
 
- Theo thống kê, các hoạt động trên mạng xã hội đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hành vi của người dùng trong cuộc sống thật của họ.
 
Cụ thể: 1/5 cặp đôi yêu nhau đã gặp gỡ và làm quen thông qua Internet, 3/5 cặp đôi đồng tính cũng đã gặp nhau trên môi trường mạng xã hội. Thậm chí, Facebook là nguyên do đã khiến 1/5 trường hợp các cặp đôi ly hôn.
 
Facebook là lý do khiến không ít cặp đôi tan rã
 
Dường như, mọi câu chuyện, dù bí mật đến đâu cũng đều có thể bị chia sẻ và lan truyền nhanh chóng trên môi trường mạng xã hội, bao gồm Facebook, Twitter hay Flickr, Youtube…
 
- Nếu Facebook là một quốc gia, thì đây sẽ là quốc gia rộng lớn thứ 3 trên thế giới.
 
- Tuy nhiên, mạng xã hội không phải luôn được hoan nghênh tại các quốc gia. Các quốc gia như Trung Quốc, Iran… các mạng xã hội như Twitter, Facebook và Youtube không được phép hoạt động.
 
Tuy nhiên, không phải nơi nào mạng xã hội cũng được hoan nghênh
 
- Có đến 95% các công ty tại Mỹ tuyển dụng nhân viên  thông qua mạng xã hội việc làm LinkedIn.
 
Trong khi đó, cứ mỗi giây lại có thêm 1 thành viên mới tham gia mạng xã hội này.
 
- Lady Gaga, Justin Bieber và Britney Spears có số người theo dõi trang Twitter đông hơn cả dân số tại nhiều quốc gia, như Thụy Điển, Israel, Hy Lạp, Chile, Triều Tiên và Úc.
 
- 50% lượng truy cập Internet di động tại nước Anh là để dành cho Facebook.
 
- 69% bậc phụ huynh tại Mỹ trở thành “bạn bè” của con cái mình trên Facebook.
 
- Mạng xã hội mua sắm Groupon là công ty đạt được doanh số bán hàng 1 tỉ USD nhanh hơn bất kỳ công ty nào khác trong lịch sử.
 
- Tại Mỹ, hiện chỉ có khoảng 1,5 triệu nông dân, nhưng lại có đến 80 triệu “nông dân ảo” tham gia trò chơi Farmville trên Facebook.
 
“Nông dân ảo” trên Facebook còn đông hơn số nông dân thật tại Mỹ
 
- Dự kiến đến năm 2013, game thủ trên các mạng xã hội sẽ bỏ ra đến 6 tỉ USD để mua các vật dụng ảo trong game.
 
- Một điều đáng ngạc nhiên, Youtube chứ không phải các công cụ tìm kiếm chuyên dụng như Bing, hay Yahoo!... mới là công cụ tìm kiếm lớn thứ 2 trên thế giới, sau Google.
 
- Cứ mỗi phút có 24 giờ video được đăng tải lên Youtube.
 
- Nếu các bài viết trên từ điển bách khoa Wikipedia được xuất bản thành sách, thì cuốn sách đó sẽ có đến 2,25 triệu trang sách, và phải mất đến 123 năm để đọc hết nội dung đó.
 
- 90% khách hàng tin tưởng đến những lời giới thiệu sản phẩm của bạn bè trên mạng xã hội, trong khi đó chỉ có 14% khách hàng tin tưởng vào quảng cáo trên truyền hình. Do vậy, mạng xã hội luôn là kênh tiếp thị và quảng cáo hàng đầu của các doanh nghiệp.
 
Theo thống kê, có đến 93% các nhà marketing lựa chọn mạng xã hội làm kênh quảng cáo chính cho doanh nghiệp của mình.
 
- Mạng xã hội còn ảnh hưởng đến cả việc lựa chọn tên tuổi cho con cái. Vào tháng 2 vừa qua, một em bé tại Hy Lạp đã được đặt tên là Facebook, hay mới đây, một em bé khác tại Israel đã quyết định sử dụng tính năng “Like” (Thích) trên Facebook để đặt tên cho con.
 
Facebook thậm chí còn được sử dụng để đặt tên cho con
 
- Trung bình, trong 1 phút, có hơn 695 ngàn trạng thái được cập nhật, 79364 thông tin được đăng tải lên tường và 510.040 bình luận được đăng tải.
 
Cũng trong 1 phút, có hơn  6.600 bức ảnh đăng tải lên Flickr, hơn 320 tài khoản mới trên và hơn 98000 thông điệp được đẳng tải lên Twitter.
 
Dantri.com

Năm yếu tố gắn kết khách hàng trực tuyến

yeu-to-gan-ket-khach-hang-truc-tuyenLàm thế nào để trang web bán hàng thu hút khách hàng và khiến họ gắn bó hơn? Một số nhà quản lý kinh doanh cho rằng khách hàng trực tuyến không trung thành và chẳng muốn tiêu tiền.
Vì vậy, trên trang web họ chỉ cung cấp thông tin tối thiểu về sản phẩm hoặc dịch vụ họ muốn bán với suy nghĩ: “Nếu cung cấp quá nhiều thông tin, khách hàng sẽ rối trí và không tập trung vào việc mua hàng”.
Liệu đó có phải là cách làm đúng? Tại sao khách hàng mua rượu vang Pháp cũng muốn tìm hiểu thêm về xuất xứ, loại nho, cách pha chế, cách uống, các thức ăn nào nên dùng chung với loại vang nào?
Khách hàng mua quần áo Versace cũng muốn biết thêm về phụ kiện mặc kèm sao cho hợp mốt, hoặc cả sự kiện về nghệ thuật lẫn kinh doanh?
Để trả lời câu hỏi này, Andreas B. Eisingerich và Tobias Kretschmer nghiên cứu 1.700 trang web thương mại điện tử, phỏng vấn 238 khách hàng trực tuyến và 112 nhà quản lý tại Mỹ, châu Âu và châu Á trong vòng bốn năm.
Kết quả cho thấy có đến 57% nhà quản lý không hài lòng với tỷ lệ tăng trưởng bán hàng trực tuyến, nhưng chỉ có 17% có kế hoạch thay đổi trang web để cải tiến việc bán hàng.
Hầu hết các nhà quản lý đều không biết nên thay đổi trang web như thế nào để lôi kéo khách hàng nhiều hơn; họ chỉ nghĩ giảm giá là cách quan trọng duy nhất để thu hút khách hàng trực tuyến.
Sau đây là năm yếu tố quan trọng giúp khách hàng trực tuyến gắn bó hơn với trang web bán hàng của bạn.
Cá nhân hóa việc mua hàngAmazon.com là bậc thầy của việc ghi nhận và cá nhân hóa việc mua hàng dựa trên hành vi mua sắm của khách hàng. Nếu bạn là một khách hàng đang sống ở Pháp, trang web sẽ hiện lên với giao diện tiếng Pháp thay vì tiếng Anh. Amazon sẽ giới thiệu một số món hàng mà bạn “nên” mua dựa trên lịch sử mua hàng trước đó của bạn, hoặc những món hàng liên quan đến món hàng mà bạn đang xem hoặc đang chọn mua.
Tương tự, trang web Pandora, Rhapsody hay tính năng Genious của ứng dụng Itunes 8 có thể suy ra khá chính xác loại âm nhạc khách hàng nên nghe dựa trên lịch sử mua hàng và phân tích đặc tính của các bài hát. Ví dụ: nếu bạn thích Britney Spears, bạn cũng nên nghe thêm Katty Perry hoặc những bài hát mới như Hung up của Madonna.
Phân loại hàng hóa rõ ràngNếu ai đã từng sử dụng eBay.com, ubid.com, hoặc etsy.com sẽ cảm thấy rất thoải mái khi duyệt qua hàng chục danh mục phân loại sản phẩm của hàng ngàn sản phẩm rao bán. Tương tự, trang web cũng phải có tính năng tìm kiếm mạnh, dễ thao tác, hay toàn bộ trang web có cấu trúc chức năng (navigation) đơn giản và tiện lợi.
nam-yeu-to-gan-ket-khach-hang-truc-tuyen
Emirates.com, trang web đạt giải trang web hàng không toàn cầu tốt nhất năm 2008 của WebAwards, cực kỳ dễ thao tác với chỉ năm khối chức năng chính.
eBay đã từng có hàng chục nhân viên chỉ đơn thuần xử lý và tối ưu hóa các từ khóa (keywords) tìm kiếm hàng hóa sao cho khách hàng thật dễ dàng tìm ra món hàng họ cần mua. Điều này có vẻ như nhà quản trị trang web nào cũng biết, nhưng khá nhiều trang web không triển khai thành công.
Dễ dàng theo dõi đơn hàngNếu bạn chỉ mua 1-2 đơn hàng mỗi năm thì chuyện cần theo dõi đơn hàng sẽ chẳng phải là vấn đề. Tuy nhiên, khoảng 20% khách hàng quan trọng sẽ đóng góp gần 80% doanh thu của một trang web, và những khách hàng loại này sở hữu rất nhiều đơn hàng (mua lẫn bán) hằng tháng.
Có những thành viên của eBay hoặc 5giay chủ yếu kiếm sống bằng việc mua đi bán lại hàng hóa trực tuyến. FedEx đã làm một cuộc đột phá trong ngành giao nhận khi cho khách hàng theo dõi lộ trình và trạng thái của gói hàng trên trang web của họ. Một khi cung cấp được cách thức dễ dàng nhất cho khách hàng theo dõi đơn hàng, trang web sẽ đem lại sự thoải mái nhất cho họ khi mua sắm.
Thông tin phong phú về sản phẩm hoặc dịch vụViệc cung cấp thêm thông tin khiến khách hàng nhận thức rõ ràng những lợi ích mà sản phẩm hay dịch vụ mua được có thể đem lại cho bản thân họ.
Vertu không đơn thuần là chiếc điện thoại như những điện thoại thông dụng khác. Vertu thể hiện đẳng cấp của người sử dụng.
Người sử dụng điện thoại Vertu cần được hiểu rõ về tính sang trọng bậc nhất của chiếc điện thoại họ đang sử dụng, chẳng hạn vật liệu quý tạo nên chiếc vỏ siêu bền, hay tổng số giờ lao động mà một người thợ dành để đánh bóng mặt đá.
Thể hiện rõ đặc tính bán hàng độc nhất (1) (USP – unique selling proposition) và đặc tính giá trị cộng thêm (EVP – extra value proposition) là những bước để chiếm lĩnh trí óc và trái tim của người mua hàng.
Thông tin về các sản phẩm và dịch vụ liên quanBạn đã từng nói chuyện với người mê xe hơi? Họ có thể giải thích cho bạn hàng giờ về các loại xe (của hãng xe mà họ thích), màu sắc nào là thời trang của năm nay, hoặc tăng cường hệ thống loa như thế nào, lắp thêm đuôi cá sao cho đẹp, kính chống nhiệt loại nào có thể giúp cho tài xế vẫn nhìn rõ vào ban đêm, AMG “độ” động cơ ra sao…
Tại sao khách hàng “tò mò” đến như vậy (ngay cả khi họ chưa đủ tiền để sắm một chiếc xe hơi)? Bởi họ muốn thể hiện bản lĩnh, muốn dùng kiến thức của mình gây ảnh hưởng lên người khác, muốn “thuộc về” (belonging) một nhóm (2), hay một sản phẩm “huyền thoại" (3). Vì vậy trang web cần cập nhật thông tin liên quan đến sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng.
(Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn)

Chiến lược Marketing trong kỷ nguyên số: Khuyến nghị cho doanh nghiệp Việt

ky-nguyen-soTrong bối cảnh mới của kỷ nguyên số, rõ ràng không có cơ hội nào tốt hơn lúc này cho các doanh nghiệp lớn của Việt Nam tận dụng sự thay đổi, củng cố thương hiệu mạnh và xây dựng chiến lược Marketing phù hợp.
Tất nhiên, mỗi doanh nghiệp sẽ phải suy nghĩ và hành động theo cách riêng của mình với định hướng chung là: Hãy đặt mình vào vị trí của khách hàng/người tiêu dùng, suy nghĩ khác biệt, tăng thêm giá trị cho khách hàng/người tiêu dùng và tập hợp một êkíp làm việc tốt nhất để thực hiện chiến lược. Trong xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược Marketing trong kỷ nguyên số, dựa trên những đặc thù của kinh doanh ở Việt Nam và châu Á, theo chúng tôi có một số điểm cần lưu ý sau đây:

Khai thác cơ hội một cách sáng tạo

  • Nỗ lực tận dụng ý thức hệ cộng đồng, các Mạng xã hội: So với người dân phương Tây, người châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng dường như vẫn bị chi phối nhiều hơn bởi các ý thức hệ của cộng đồng. Qua các cổng thông tin Internet, qua các mạng xã hội có thể xác định những chủ đề nào được nhiều người quan tâm nhất. Những nguồn thông tin dạng này rất hữu ích để đánh giá và nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng để từ đó khai thác các cơ hội kinh doanh mới.
  • Đa dạng đối tượng: Việt Nam là thị trường tổng hòa của nhân tố già và trẻ, nhiều công ty hàng đầu Việt Nam khi triển khai và thực hiện chiến dịch Marketing thường tập trung vào giới trẻ mà quên mất rằng trên thực tế thị trường này là tổng hòa của cả hai nhân tố già và trẻ. Việt Nam và nhiều nước châu Á là những nền kinh tế mới nổi nhưng vẫn hàm chứa những yếu tố truyền thống của một nền văn hóa lâu đời nhất trên trái đất. Cả hai yếu tố này tồn tại song hành và tác động qua lại đến hành vi của người tiêu dùng.
Doanh nghiệp Việt Nam, dù là doanh nghiệp lớn trong nuớc, tuy nhiên sơ với thế giới thì cũng rất non trẻ và nhỏ gọn. Trong bối cảnh khủng hỏang kinh tế và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số ngày nay, thì dứơi góc độ linh động đây lại là một lợi thế lớn. Các doanh nghiệp nếu biết khai thác tốt công nghệ số, nói chung sẽ giúp sự quản lý linh họat hơn, nhanh hơn và thích ứng tốt hơn sự thay đổi quá nhanh của môi trường kinh doanh tòan cầu. Tuy nhiên cần tránh suy nghĩ “phòng ban” theo như mô hình marketing truyền thống vốn được các tập đòan đa Quốc Gia ứng dụng suốt trong nhiều thập kỷ qua. Thị trường Việt Nam trong kỷ nguyên số không theo quy chuẩn và không ngừng vận động, nếu áp dụng mô hình mẫu có thể sẽ gặp phải rất nhiều vấn đề. Vì vậy, cần cân nhắc lại và linh hoạt hơn khi tiến hành phân tích để công việc nghiên cứu của mình dễ dàng thích ứng với điều kiện thị trường.

Thời kỳ của chiến lược Marketing năng động:

  • Chiến lược từ bên trong và bên ngoài: việc hình thành chiến lược marketing từ bên trong vốn là mô hình cổ điển, được nhiều doanh nghiệp Việt ứng dụng trên cơ sở khai thác nguồn lực và điểm mạnh nột tại. Tuy nhiên trong một thế giới biến đổi trong kỷ nguyên số hiện nay, nắm bắt cơ hội và hạn chế rủi ro bên ngòai là điều rất quan trọng. Lenovo là một điển cứu thú vị cho chiến lược tiếp thị huớng ngọai này. Nếu Lenovo cứu dựa vào sự tăng trường hữu cơ trên cơ sở của nọi lực thì không biết phải mất bao lâu mới vuơn ra khỏi Trung Hoa đại lục mặc dù có là một đại gia của ngành máy tính Trung Quốc. Khai thác thương hiệu và mạng lưới phân phối của dòng Laptop IBM Think Pad là một buớc đi đột phá, song song đó họ biết khai thác cơ hội bên ngoài qua việc giành lấy hợpđồng tài trợ có một không hai của sư kiện Olympic Bắc Kinh đã giúp họ nhanh chóng trở thành một thương hiệu tòan cầu chỉ sau một hai nuớc cờ. Hàng loạt các thương hiệu lớn ngày nay đã tranh thủ tận dụng nguồn lực ngoàii qua các mạng xã hội, việc Boeing, Dell, Proter & Gambles, Starbucks, Nike…huy động sự sáng tạo/đóng góp ý kiến  từ bên ngòai trên các diễn đàn trực tuyến là những ví dụ sống động.
  • Tầm nhìn tòan cầu trong văn hóa Á Đông
    Những tập đoàn châu Á như Samsung hay Lenovo, Haier, Tata giờ đây đang mở rộng quy mô toàn cầu.  Song song với tiến trình này, nhiều thương hiệu hàng đầu thế giới - vốn trước kia giành được thị phần tại châu Á nhờ giá trị mang tính toàn cầu của chúng - thì nay đang dần chuyển mình cho hợp với những nét "Á Đông".

    Khi khẳng định đẳng cấp, tiến ra thế giới, trước hết các doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam cần khẳng định đẳng cấp của mình ở khu vực Đông Nam Á nói riêng và châu Á nói chung. Khi các thị trường châu Á lớn mạnh dần và trở nên khắt khe hơn, người tiêu dùng sẽ chỉ gắn bó với những sản phẩm/dịch vụ đem lại cho họ những giá trị vượt trội hơn cả cho dù chúng xuất xứ từ đâu và ai làm ra chúng. Đây chính là thông điệp đầy giá trị mà bất kỳ một công ty nào cũng cần ghi nhớ khi đứng trên thương trường quốc tế và quốc nội.
  • Nâng tầm và vai trò của cán bộ Marketing: Ở các doanh nghiệp lớn của Việt Nam, ít nhiều mọi thứ đều có sự quy củ, bài bản, các nhà quản lý/điều hành có thể quen tư duy theo các quy trình vận hành chuẩn mực đã có sẵn và đối với công tác Marketing cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Nhiều cán bộ chủ chốt ở các doanh nghiệp lớn được đào tạo và trưởng thành ở các Tập đoàn đa quốc gia vốn quen với việc lập các kế hoạch/ngân sách thường niên, thực hiện các mô hình Marketing và giám sát từng nhân tố trong đó. Trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, các cán bộ này cũng khó bỏ được thói quen tải về các biểu mẫu và nhập dữ liệu vào đó, sao chép các mô hình Marketing mẫu đã được thực hiện thành công ở các nước trên thế giới. Trong lĩnh vực Marketing, đặc biệt ở các doanh nghiệp lớn, việc thay đổi đội ngũ nhân sự có thể gây ra hậu quả khôn lường bởi các kinh nghiệm marketing ở thị trường hiện tại trong lĩnh vực cụ thể không phải là dễ dàng được tích luỹ. Hơn nữa, các mối quan hệ đã được thiết lập bấy lâu - vốn được xem như một thứ tài sản vô giá tại châu Á - có thể bị bỏ phí, đặc biệt khi yếu tố này ngày càng trở nên thiết yếu với thị trường giữa các doanh nghiệp với nhau hoặc trong việc kiểm soát các đầu mối trung gian. Các doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam cần thiết lập cơ sở hạ tầng để lưu giữ những thông tin Marketing sống còn này hoặc thúc đẩy sự kế cận ở các vị trí chủ chốt phụ trách công tác Marketing. Nhân sự marketing cao cấp vì thế phải có đủ năng lực và bản lĩnh để có thể vừa cập nhật kiến thức marketing hiện đại vừa biết kế thừa những di sản riêng của công ty từ đó dám quyết đóan/chọn lựa mô hình tiếp thị phù hợp, đủ tự tin để xây dựng những thương hiệu công ty mạnh xứng tầm hàng đầu Việt Nam.
- Nguyễn Trung Thẳng, Chairman of Masso Group -
(Phương Trinh -
Theo Masso Group)

Mô hình nào cho chiến lược marketing?

 Mô hình nào cho chiến lược marketing?Khi E. Jerome McCarthy (Đại học Harvard) viết cuốn sách Marketing cơ bản (Basic Marketing) vào năm 1960, có lẽ ông cũng không lường trước được mức độ ảnh hưởng của mô hình 4Ps mà ông giới thiệu dựa theo khái niệm marketing mix.
4Ps - Bộ khung cơ bản
Nguyên văn 4Ps lúc đó được hiểu như sau:
  • Product: Sản phẩm được định hình từ những nhu cầu căn bản của người tiêu dùng.
  • Price: Quyết định về giá sản phẩm phụ thuộc vào chi phí sản xuất, điều hành từ chính bản thân công ty và vị thế của sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
  • Place: Cách thức phân phối sản phẩm.
  • Promotion: Các loại hình quảng bá sản phẩm.
Gần nửa thế kỷ trôi qua, đã có rất nhiều bài viết đưa ra những lập luận và phê bình cho rằng 4Ps đã quá lỗi thời và không đủ để tạo một nền tảng vững vàng cho một chiến lược tiếp thị trong thế kỷ mới. Và cũng có hàng loạt những mô hình marketing khác (như 7Ps, 4As...) được giới thiệu nhằm thay thế vị trí của 4Ps trong thế giới marketing.
Thế nhưng 4Ps vẫn tiếp tục tồn tại trong hầu hết các lớp học về marketing, từ những khóa cơ bản ngắn hạn để bổ sung kiến thức cho đến các lớp chuyên ngành trong đại học và thậm chí ngay cả trong các chương trình đào tạo MBA dành cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp tương lai.
Lý do 4Ps vẫn tồn tại được trong gần nửa thế kỷ qua là vì nó đã bao quát được toàn bộ các yếu tố của một chiến lược tiếp thị một cách đơn giản nhất mà vẫn tương đối đầy đủ. Tất nhiên 4Ps hiện nay được định nghĩa rộng hơn thuở ban đầu để phù hợp hơn với thời đại.
  • Product: Quản lý các yếu tố của sản phẩm/dịch vụ (thương hiệu, chức năng, chất lượng, hình thức, bao bì, dịch vụ kèm theo, chế độ bảo hành…) và lập kế hoạch phát triển sản phẩm/dịch vụ ra thị trường.
  • Price: Quyết định về giá sản phẩm ngoại trừ các chi phí sản xuất, điều hành còn tính tới các yếu tố khác (giá hiện tại của sản phẩm cạnh tranh, giá khuyến mãi, giá cho các đại lý, giá áp dụng cho các hình thức thanh toán khác…) để xác định giá niêm yết cho sản phẩm.
  • Place: Chọn lựa và quản lý các kênh thương mại để sản phẩm chiếm lĩnh được thị trường mục tiêu đúng thời điểm và phát triển hệ thống hậu cần (logistics) và vận chuyển sản phẩm.
  • Promotion: Giới thiệu và thuyết phục thị trường tiềm năng dùng sản phẩm của doanh nghiệp thông qua các loại hình quảng bá (quảng cáo, bán hàng Cá nhân, quan hệ công chúng, báo chí hoặc Internet…).
Một chiến lược marketing được xây dựng trên bộ khung 4Ps sẽ bắt đầu từ chính sách về sản phẩm. Đây là một điều hợp lý vì thiết yếu nhất của một doanh nghiệp là phải có một sản phẩm hoặc dịch vụ để đưa ra thị trường.
Sau khi có sản phẩm, nhà quản lý sẽ bắt đầu tính toán tới chính sách về giá. Chính sách về giá có thể sẽ ảnh hưởng tới hệ thống phân phối của sản phẩm.
Ví dụ một sản phẩm đắt tiền sẽ không trưng bày trong các tiệm tạp hóa ở khu lao động hay ngược lại.
Cuối cùng, sau khi đã xác định được chính sách phân phối sản phẩm, nhà quản lý sẽ quyết định các loại hình quảng bá nào để xúc tiến việc bán sản phẩm. Tất cả các chính sách trên đều được xây dựng nhắm tới thị trường mục tiêu (xem sơ đồ kết hợp 4Ps trong chiến lược marketing).
Trên lý thuyết, nếu như doanh nghiệp có thể thực hiện bất kỳ một nhân tố P nào trong 4Ps tốt hơn đối thủ thì doanh nghiệp đó sẽ có lợi thế cạnh tranh - dấu hiệu của một chiến lược marketing thành công - được khách hàng ưa chuộng hơn và trở nên thành công hơn.
Tuy vậy, trong thực tế các doanh nghiệp luôn gặp khó khăn trong việc có được lợi thế cạnh tranh để làm nên một sự khác biệt, tạo ra sự bứt phá trong “rừng” nhãn hiệu hiện nay. Một số doanh nghiệp nhận ra rằng nếu họ cố gắng hơn một chút nữa trong việc hình thành chính sách về sản phẩm - nếu họ thật sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, làm cho khách hàng thật sự hài lòng - thì họ sẽ có được lợi thế cạnh tranh. Và quan trọng hơn, doanh nghiệp nhận ra rằng khách hàng sẵn sàng trả thêm một chút tiền để được phục vụ tốt hơn hoặc nhận được sản phẩm có giá trị cộng thêm (added value).
Doanh nghiệp cũng nhận ra rằng nếu như sản phẩm của họ được trình bày tốt hơn đối thủ, họ sẽ có thể tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của mình trong khi quảng bá về nó và lôi cuốn được sự chú ý của khách hàng. Chìa khóa thành công của các doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược marketing dựa trên bộ khung 4Ps là họ phải nhận ra rằng khách hàng là trọng tâm, thị trường mục tiêu (Target market) là trọng tâm trong khi 4Ps xoay quanh nó.
3Cs - Khách hàng là trọng tâm
Nếu như tất cả các doanh nghiệp đều đang thực hiện chiến lược marketing, sản xuất và cố gắng làm hài lòng khách hàng một cách bài bản và không phạm một sai lầm nào, khách hàng sẽ nhận ra rằng:
  • Cơ bản mà nói các sản phẩm và dịch vụ đều giống nhau.
  • Chính sách giá cả lúc nào cũng cạnh tranh và càng lúc càng trở nên cạnh tranh hơn khi các doanh nghiệp muốn phát triển và giành thị phần của nhau.
  • Các doanh nghiệp đều đang cố gắng trong chính sách phân phối sản phẩm của mình, tìm cách mở rộng độ bao phủ thị trường và hoàn thiện hệ thống hậu cần vận chuyển. Và cuối cùng, người tiêu dùng sẽ thấy rằng họ có thể mua bất kỳ sản phẩm nào ở bất kỳ đâu.
  • Sự thành công của các chính sách quảng bá sản phẩm không nằm trong tay doanh nghiệp bởi vì khách hàng mới là người quyết định sẽ tiếp nhận thông tin nào thông qua hình thức nào và có tin vào thông tin đó hay không. Doanh nghiệp có thể đầu tư hàng đống tiền vào một đoạn quảng cáo trên truyền hình nhưng khách hàng tiềm năng của họ có thể sẽ chuyển kênh ngay lập tức khi thấy đoạn quảng cáo.Vậy thì khi mà tất cả các sản phẩm đều giống nhau, hệ thống phân phối phủ khắp nơi, giá cả thì cực kỳ cạnh tranh và khách hàng mới là người quyết định sự thành công của một chính sách quảng bá, doanh nghiệp có thể làm gì?
Mô hình 3Cs giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược marketing dựa trên một yếu tố trọng tâm, khách hàng (customer).
Trước hết, doanh nghiệp phải nhận ra được rằng ngày nay một chiến lược marketing thành công đầu tiên phải tiếp cận được và gắn bó với khách hàng (Customer engagement).
Điều đó có nghĩa là bất cứ chính sách marketing nào của doanh nghiệp cũng phải được đề ra để củng cố và xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp lớn mạnh hơn. Để gắn bó được với khách hàng, sản phẩm của doanh nghiệp phải thỏa mãn hoặc vượt hơn sự mong đợi (chứ không chỉ là nhu cầu) của khách hàng trong lĩnh vực của sản phẩm đó.
Muốn làm được điều đó, doanh nghiệp phải làm tốt công tác tìm hiểu sự mong đợi của khách hàng (Customer expectations), hiểu được khách hàng thực sự muốn gì. Trong việc xác định sự mong đợi của khách hàng, doanh nghiệp đừng bị bó buộc bởi hiện thực mà hãy sẵn sàng tiếp thu cái mới, có như vậy doanh nghiệp mới có thể xác định được cơ hội thật sự của mình trong thị trường.
Theo một nghiên cứu gần đây của Robert Passikoff (Đại học New York), trong vòng 10 năm qua, sự mong đợi của khách hàng đã tăng lên 27% trong khi các doanh nghiệp chỉ có thể đáp ứng được 8% trong số ấy. Khách hàng luôn mong đợi nhiều hơn và nếu không khéo léo trong việc dự báo sự mong đợi của khách hàng, doanh nghiệp sẽ thu được những thông tin đại loại như “mong muốn sản phẩm tốt nhất, hiện đại nhất với giá rẻ nhất”.
Nhưng có một sự thật mà doanh nghiệp nên ghi nhớ đó là: Yesterday’s “Wow” is tomorrow’s expectation and next week’s “so what” (tạm dịch: sự ngạc nhiên của ngày hôm qua sẽ được mong đợi vào ngày mai và trở nên nhàm chán vào tuần sau). Khách hàng sẽ mong đợi nhiều hơn ở bạn, nếu như bạn làm tốt việc của mình và một khi bạn đã làm tốt việc của mình, bạn không thể dừng lại mà phải tiếp tục phát huy điều đó.
Tiếp cận và gắn bó với khách hàng cũng thông qua việc đáp ứng được sự mong đợi của họ mà từng bước xây dựng được lòng trung thành của khách hàng (Customer loyalty). Khách hàng trung thành mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp.
Thứ nhất, nhìn chung doanh nghiệp sẽ tốn ít tiền hơn để giữ chân khách hàng trung thành so với việc lôi kéo khách hàng mới. Thứ hai, khách hàng trung thành ngoài việc sử dụng thường xuyên sản phẩm của doanh nghiệp, còn dễ bị thuyết phục hơn trong việc sử dụng thêm một sản phẩm khác của doanh nghiệp đó. Và cuối cùng, khách hàng trung thành còn giới thiệu doanh nghiệp với bạn bè và người thân của họ.
Tuy nhiên, xây dựng lòng trung thành của khách hàng là một công việc phức tạp và lâu dài. Doanh nghiệp nên biết rằng nếu khách hàng biết đến bạn chưa chắc là họ sẽ chọn bạn, và ngay cả khi họ chọn bạn thì chưa chắc là họ sẽ trung thành với bạn. Do vậy mô hình 3Cs không dừng lại ở việc xây dựng lòng trung thành của khách hàng mà tiếp tục trở lại bước đầu tiên: tiếp tục tìm cách tiếp cận và gắn bó với khách hàng.
Kết hợp 4Ps và 3Cs
4Ps là một nền tảng tốt để giúp các nhà lãnh đạo doanh nghiệp hiểu rõ các thành phần của một chiến lược marketing. 3Cs lại đưa ra một cái nhìn khác, xây dựng chiến lược marketing để từng bước chiếm được lòng trung thành của khách hàng. Để có một chiến lược marketing thành công, doanh nghiệp nên lấy lòng trung thành của khách hàng làm mục tiêu.
Thông qua 3Cs, doanh nghiệp có thể hiểu được và thậm chí dự báo được những tiêu chí, xu hướng làm cho khách hàng trở nên trung thành hơn với mình. Và sau đó sử dụng 4Ps để thiết lập các chính sách về sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối và cách quảng bá theo hướng tốt nhất. Các công ty như Google, Toyota, Starbucks hay Apple đã nhận ra từ lâu rằng việc xác định và dự báo những yếu tố mà khách hàng ưa thích (preferences) là cực kỳ quan trọng và họ đã xây dựng được những chiến lược marketing thành công dựa trên những dự báo này.
(Theo TBKTSG)

5 lý do khiến tiếp thị truyền thông xã hội thất bại

tiep-thi-truyen-thong-xa-hoiTruyền thông xã hội (TTXH - social media) đang trở thành một công cụ thời thượng của ngành tiếp thị. Nhiều công ty hàng đầu đã và đang đổ tiền vào các chiến dịch quảng cáo rầm rộ trên các trang như Facebook, Twitter hay YouTube.
Tuy nhiên, tác động thật sự của TTXH đến thương hiệu, doanh số và dịch vụ khách hàng vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi.
Tuy nhiên, phải nói ngay rằng, TTXH không phải là nguyên nhân dẫn tới sự sụt giảm doanh số của không ít thương hiệu.
Vấn đề nằm ở chỗ, các công ty này đã không xác định được mục tiêu rõ ràng của các chiến dịch TTXH và sử dụng không hiệu quả các công cụ này.
Sau đây là 5 nhận định sai lầm khiến việc tiếp thị bằng TTXH đi chệch hướng.

1. “Thương hiệu” tồn tại như một thực thể

Các nhà tiếp thị đã quen với suy nghĩ “Thương hiệu tồn tại như một thực thể”. Trên thực tế, “thương hiệu” chỉ là một khái niệm trừu tượng mà thôi.
Bản thân thương hiệu không có giọng nói, danh tiếng, thuộc tính riêng hay hành động.
Khi các nhà quảng cáo đánh giá mức độ nhận biết của một thương hiệu nào đó, họ chỉ ghi lại nhận định của khách hàng về thương hiệu đó trong một khoảng thời gian cố định.
Vì vậy, ý định tạo ra các cuộc đối thoại giữa thương hiệu và người tiêu dùng là không có cơ sở. Khách hàng nói về thương hiệu chứ không nói với thương hiệu. Thay đổi nhận thức về thương hiệu là bước đi quan trọng đầu tiên giúp bạn sử dụng hiệu quả hơn, xác định được mục đích khi sử dụng các kênh truyền thông này.

2. Truyền thông xã hội đem tới cơ hội đối thoại với khách hàng

Các nhà tiếp thị thuyết phục bạn: Mạng xã hội (MXH) không giống các phương tiện truyền thống, nó sẽ giúp bạn tiếp cận trực tiếp, nhanh hơn và gần hơn với khách hàng.
Tuy nhiên, đối thoại cũng không phải là việc mới mẻ và không phải đợi đến khi MXH ra đời thì nhà kinh doanh mới có cơ hội đối thoại với khách hàng. Bạn nên hạn chế giao tiếp với khách hàng nếu các cuộc nói chuyện này không hướng đến một mục tiêu hay đem tới những giá trị cụ thể.

3. Truyền thông xã hội giúp thương hiệu có thêm khách hàng

Bạn có một danh sách bạn bè (friendlist) hoặc người hâm mộ (fan) dài dằng dặc không có nghĩa tất cả họ đều là khách hàng của bạn. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp (DN) với khách hàng không thể được duy trì bằng các trò giải trí online.
Điều quan trọng không phải là thu hút được nhiều người nhấn nút “thích” (like). Bạn phải tận dụng mọi cơ hội tương tác với khách hàng để giao tiếp hiệu quả và thuyết phục được họ sử dụng dịch vụ, sản phẩm. Chất lượng quan trọng hơn số lượng.

4. Truyền thông xã hội cải thiện dịch vụ khách hàng

Khiếu nại là kết quả của cả một quá trình sản xuất và kinh doanh, còn khắc phục các khiếu nại là một phản ứng đối với sự thất bại của dịch vụ khách hàng. DN dựa vào các phương tiện TTXH như công cụ để các lời phàn nàn xuất hiện vào mediasphere này.
Đáng lẽ dịch vụ khách hàng phải giải quyết các khiếu nại miễn phí thì mới đóng vai trò quản lý khiếu nại. Ngăn cản khách hàng cảm thấy không hài lòng về dịch vụ không phải là cách hay. Chiêu thức này không làm cho chất lượng sản phẩm cải thiện.

5. Mục tiêu của các chiến dịch truyền thông xã hội không phải là bán hàng

DN và các nhà tiếp thị - quảng cáo cần truyền đi thông điệp này một cách rõ ràng. Tăng doanh số phải là yếu tố hàng đầu đánh giá sự thành công của một chiến dịch TTXH.
Từ trước đến nay, các DN vẫn loay hoay xác định đích đến thực sự của các hoạt động này và bây giờ, tất cả những gì cần làm là thừa nhận việc tiếp thị bằng TTXH cũng có cùng đích đến với việc kinh doanh.
- Phúc An -
(Thanh Phương -
Theo Doanh nhân Sài Gòn/imediaconnection

Âm thanh trong marketing: Không đơn thuần chỉ là “phụ gia”!

Âm thanh trong marketing: Không đơn thuần chỉ là “phụ gia”!Âm thanh là một bộ phận quan trọng của marketing, bất kể ở hình thức nào: nhạc, bài hát, lời thoại hay đơn thuần là những tiếng ồn. Dù chỉ được coi là “phụ gia” trong các đoạn clip quảng cáo, thực tế marketing âm thanh quan trọng không kém marketing hình ảnh bởi trước tiên con người sử dụng các giác quan (khứu giác, thị giác, thính giác, cảm giác, xúc giác) theo cách thức tỷ trọng khác nhau. Do marketing thị giác thông qua hình ảnh đã trở nên quá phổ biến, việc lồng ghép marketing âm thanh khéo léo sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt cần thiết cho thông điệp quảng cáo của mình. Ngoài ra âm thanh, đặc biệt là âm nhạc, thường khiến con người hồi tưởng lại một sự kiện mà ở đó họ đã từng được nghe âm thanh, điệu nhạc đó. Đặc tính này rất quan trọng bởi bất kể lúc nào, một âm thanh phát ra trong một phạm vi có thể khiến cho nội dung quảng cáo “dội về” trong tâm trí đối tượng cần quảng cáo.
“Gia cố” thương hiệu
Đặc tính của marketing âm thanh nhằm đảm bảo rằng người nghe (đối tượng marketing) gắn một âm thanh đặc thù cho một doanh nghiệp hoặc một sản phẩm, từ đó “gia cố” hình ảnh thương hiệu này. Chắc hẳn ít người có thể quên được quảng cáo Heineken với bài hát “Quando Quando” nổi đình nổi đám khoảng 3, 4 năm trước. Bạn cũng có thể dễ dàng nhận diện thương hiệu Nokia khi nghe tiếng nhạc rất đặc thù mỗi khi một chú dế Nokia được bật. Hoặc khi ghe giọng đọc rất “điện tử” câu khẩu hiệu “Life is good”, bạn sẽ nhớ ngay tới những chiếc tủ lạnh hoặc TV mang thương hiệu LG.
Để có tìm được âm thanh thực sự “đắt” cho quảng cáo, đa phần các công ty lựa chọn giải pháp sáng tác một đoạn nhạc phù hợp với nội dung muốn truyền tải vì không phải dễ dàng để tìm kiếm một ca khúc có sẵn phù hợp, chưa kể tới vấn đề thương lượng bản quyền. Ví dụ: Honda với Tôi yêu Việt Nam, P/S với Cười lên Việt Nam ơi, Vinamilk với Sữa tươi nguyên chất 100%...
Hướng lựa chọn thứ hai, cũng đã có rất nhiều công ty lớn sử dụng ngay những âm thanh, bản nhạc phổ biến để quảng bá cho sản phẩm của mình. Đơn giản bởi những bản nhạc này thường xuyên được phát trên những kênh truyền thông như TV, đài phát thanh… Và mỗi lần như vậy, sẽ có rất nhiều người nhớ tới sản phẩm của họ. Ví dụ: thương hiệu sô-cô-la Cadbury sử dụng ca khúc Don’t stop me now” của Qeen (năm 2008). Bia Carlsberg cũng đã không ngần ngại “bê” nguyên cả bản Groovejet của Spiller cho quảng cáo của mình trong dịp lễ năm 2000.
Tác động tới hành vi
Các công ty đã và đang lợi dụng âm thanh để tác động tới hành vi của người nghe, những đối tượng khách hàng tiềm năng của họ. Tùy thuộc vào từng chủng loại hàng hóa, dịch vụ và từng bối cảnh, hoạt động marketing sẽ được triển khai thông qua nhiều chủng loại âm thanh khác nhau. Không phải ngẫu nhiên mà những đoạn nhạc không lời với tiết tấu nhẹ nhàng lại được nhiều quán café lựa chọn. Một cửa hàng bán trang phục thể thao thì lại nên sử dụng những âm thanh sôi động, khỏe khoắn nếu muốn tăng sức hút đối với khách hàng.
Quảng cáo qua âm thanh nhất thiết phải chú trọng vào chất lượng âm thanh, vì vậy cần phát âm chuẩn. Ngoài ra, nếu khai thác trên khía cạnh âm nhạc thì phải bỏ công nghiên cứu gu âm nhạc của từng vùng, từng nhóm tuổi của các đối tượng khách hàng tiềm năng. Cụ thể khi triển khai ở miền Tây Nam Bộ, về giai điều bạn nên tập trung vào vọng cổ, hát ru. Trong trường hợp cần tới nhạc nền, nên chọn nhạc nền đơn giản, dễ nhớ (ví dụ kiểu đơn âm của Nokia).
Phân phối thông tin
Công ty của bạn có thể sử dụng các đoạn thông tin đã ghi âm sẵn để lồng vào thời gian chờ của tổng đài điện thoại mỗi khi có khách hàng gọi tới. Nội dung ghi âm có thể là những âm thanh đặc trưng gắn liền với thương hiệu của bạn hoặc chứa đựng những thông tin về sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đang cần quảng bá. Chắc hẳn khách hàng sẽ cảm thấy hài lòng khi được cung cấp thêm thông tin hoặc được nghe những giai điệu dễ chịu hơn tiếng “tít tít” nhàm chán trong khi chờ đợi. Cũng cùng mục đích sử dụng âm thanh để truyền tải thông tin về sản phẩm, công ty của bạn cũng có thể xây dựng riêng hoặc sử dụng dịch vụ của các trung tâm cuộc gọi (call center hay contact center). Hệ thống này cung cấp giải pháp giúp triển khai các cuộc gọi đi tự động để quảng bá sản phẩm hoặc chăm sóc khách hàng. Hiện bạn đã có khá nhiều lựa chọn vì trong vài năm trở lại đây, kinh doanh dịch vụ call center / contact center đã và trở nên chuyên nghiệp ở Việt Nam với sự góp mặt của những công ty lớn như Minh Phúc, Focus, Tinh Vân, CMC…
“Liệu cơm gắp mắm”
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, các doanh nghiệp đều tìm cách thắt chặt chi tiêu, bao gồm cả chi tiêu cho marketing. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn hoàn toàn có thể triển khai marketing qua âm thanh xuất phát từ những thao tác đơn giản như lồng các đoạn ghi âm, nhạc nền cho website của doanh nghiệp, tổng đài điện thoại… Thay vì một bản tin quảng cáo phát qua sóng phát thanh của trung ương, doanh nghiệp hoàn toàn có thể nghĩ tới khả năng tiếp cận quảng cáo qua các hệ thống các đài phát thanh tỉnh, thành và thậm chí xuống tới cấp huyện, xã.
Cư dân sinh sống tại phường Thanh Xuân Bắc (Quận Thanh Xuân, TP Hà Nội) rất quen thuộc với những gói dịch vụ ưu đãi được Ngân hàng Quân đội quảng bá ngay sau các bản tin của phường (phát đều đặn vào 7h sáng hàng ngày). Xuất phát từ nhiều góc độ, rõ ràng cách tiếp cận của MB là rất trực tiếp và chắc chắn hiệu quả đạt được xét tới chi phí bỏ ra là rất tốt. “Tôi tiếp nhận quảng cáo của MB một cách rất tự nhiên. Bạn có thể tránh không nhìn vào các tấm biển quảng cáo hoặc các đoạn clip quảng cáo phát trên các màn hình, tuy nhiên bạn không thể tránh âm thanh”, anh Thịnh – một cư dân trong phường thừa nhận.
(Theo DNSGCT)

Cuộc cách mạng tên miền internet

tenmienDùng chính tên thương hiệu của doanh nghiệp làm tên miền sẽ không còn là điều ước nữa. Nó sẽ trở thành hiện thực từ năm 2012.
Để các trang web của mình trở nên dễ nhận biết hơn, các doanh nghiệp và tổ chức có thể thay thế đuôi “.com” hay “.fr” bằng “.canon” hay “.paris” tùy theo ý mình. Đây là sự thay đổi mang tính chất lịch sử song còn gây nhiều tranh cãi.

Phát pháo từ Icann

“Ngày 20.6 vừa qua có thể sẽ được ghi vào lịch sử như là ngày internet thay đổi một cách sâu sắc”. Đó là đánh giá chưa đầy đủ của Icann, tổ chức quản lý số liệu và tên miền internet, về tác động của cuộc cải cách internet được thông qua ngày 20.6 tại Singapore. Theo đó, kể từ năm 2012, các doanh nghiệp tư nhân có thể sở hữu đuôi miền internet của riêng mình thay cho “.fr” hay “.com”.
Các địa chỉ internet này giúp mọi người tiếp cận với các trang web dễ dàng hơn, không cần phải vào các địa chỉ IP của máy chủ, vốn là những dãy số khó nhớ. Ví dụ, với địa chỉ www.lefigaro.fr của báo Le Figaro, người quản trị website này có thể thêm vào dữ liệu mà họ muốn, chẳng hạn như golf.lefigaro.fr hay iphone.lefigaro.fr. “Lefigaro” là tên miền đã được đăng ký với tổ chức phụ trách đặt tên miền Afnic, quản lý đuôi “.fr” của Pháp.
Trong khi các phần đầu của một trang web có thể do mỗi người tự chọn thì phần đuôi lại bị giới hạn. Hiện nay, có khoảng 300 tên miền internet cấp 1, thuộc về từng nước như “.fr”, “.de” hay tên miền chung như “.com”, “.net” do các tổ chức tư nhân quản lý.
Dưới áp lực của các cuộc vận động hành lang với mong muốn làm phong phú thêm các tên miền trên internet, Icann đã cho phép thêm 14 tên miền mới kể từ năm 2000 như “.xxx” dành cho các trang web đen hay “.mobi” dành cho các trang web về dịch vụ di động.
Song cho tới thay đổi lớn ngày 20.6 vừa qua thì doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức mới bắt đầu được quản lý tên miền của chính mình. Cụ thể, điều này có nghĩa Canon được phép sở hữu tên miền “.canon” và quản lý mọi trang web tùy ý, cùng với đó là tên miền cấp 2 dành cho mỗi sản phẩm của doanh nghiệp này.

Ai hưởng lợi đầu tiên?

Các tổ chức muốn sở hữu tên miền dạng này có thể nộp hồ sơ đăng ký cho Icann kể từ ngày 12.1.2012. Đợt tiếp nhận đầu tiên này sẽ kéo dài trong vòng 90 ngày. Những hồ sơ đầu tiên sẽ được xét duyệt vào cuối năm 2012 và tên miền mới sẽ ra mắt vào đầu năm 2013. Thành phố Paris đã dự tính đăng ký tên miền “.paris”.
Theo Icann, khoảng 120 doanh nghiệp và tổ chức đã tỏ rõ sự quan tâm và Icann hy vọng sẽ có khoảng 300-1.000 tên miền được đăng ký trong đợt đầu. Các ứng viên chủ yếu mong muốn gìn giữ thương hiệu của mình. Nhưng một số khác lại quan tâm đến các tên miền có tính phân loại như “.bank” (ngân hàng).
Việc tự do hóa tên miền có vẻ là cơ hội kinh doanh tuyệt vời của Icann, cho dù tổ chức phi lợi nhuận này phủ nhận việc này. Các doanh nghiệp muốn đăng ký phải nộp đến 185.000 USD và sau đó là phí duy trì 25.000 USD/năm.
Icann hy vọng sẽ hạn chế được việc lạm dụng đăng ký tên miền vì mức phí cao và thủ tục phức tạp (phải hoàn thành hồ sơ dài gần 200 trang). Theo Le Figaro, các nhà quản lý tên miền mới còn phải chấp nhận có một khoảng thời gian chờ để các doanh nghiệp được ưu tiên mua lại tên miền thương hiệu của họ. Nhưng mỗi lần như thế, họ đều phải trả tiền cho Icann.
- Thụy Anh -
(Thanh Phương -
Theo Nhịp Cầu Đầu Tư/Le figaro)

Tăng hiệu quả marketing trực tuyến với blog bằng cách nào ?

Ngày nay, blog không còn là chỉ là nhật kí trực tuyến. Những mô hình kinh doanh online hoặc offline đều có thể sử dụng blog để giới thiệu sản phẩm, dịch vụ tới lượng khách hàng tiềm năng lớn hơn, gia tăng lượng truy cập vào website, sự quan tâm và đơn đặt hàng.

Với một blog kinh doanh hiệu quả, bạn có thể:

Nhân cách hoá doanh nghiệp. Vì tính chất của blog không trang trọng như website, bạn có thể viết bài theo phong cách riêng và tạo cho doanh nghiệp những tính cách như con nguời. Điều này giúp khách hàng tin tưởng rằng những nhu cầu của họ sẽ được đáp ứng bởi con người thực, không phải chỉ là trang web.
Gia tăng dịch vụ khách hàng. Blog có thể sử dụng như hình thức Hỏi – Đáp trực tuyến bằng cách cho phép khách hàng gửi câu hỏi và bạn trực tiếp trả lời. Ngoài ra cũng có thể cập nhật thông tin mới về sản phẩm, dịch vụ, bài viết hướng dẫn và những thông tin liên quan tới khách hàng. Những khách hàng khi đọc blog có thể được khích lệ bởi những cam kết của bạn về dịch vụ khách hàng hoàn hảo.
Cung cấp khách hàng thông tin họ cần. Với chức năng tự động lưu trữ theo ngày và chuyên mục, blog là một công cụ quản lí nội dung tuyệt vời. Bạn sẽ dễ dàng cập nhật những thông tin mới thường xuyên hơn và khách hàng cũng dễ tìm thấy những thông tin họ cần hơn. Với nội dung trang blog được đầu tư và cập nhật thường xuyên, bạn sẽ trở thành nguồn thông tin tham khảo đáng tin cậy trong ngành và tạo ra một lượng đọc giả trung thành. Đây sẽ là những khách hàng tiềm năng của bạn.
Tăng truy cập vào website bán hàng. Nếu đã có website, một trang blog có thể gia tăng đáng kể lượng truy cập vào trang web. Đầu tiên, blog sẽ thu hút những khách hàng mới và bạn có thể chuyển họ vào website chính bằng những đường link và lời đề nghị hấp dẫn. Kĩ thuật hiệu quả hơn là sử dụng những từ khoá và đường link vào những trang bán hàng cụ thể để cải thiện thứ hạng trên công cụ tìm kiếm, của cả website chính và blog.
Xây dựng uy tín là chuyên gia trong ngành. Hãy tích cực xây dựng uy tín bằng cách thường xuyên post những thông tin hữu ích và có giá trị. Đây là cách tốt nhất để trở thành chuyên gia trong lĩnh vực của bạn, điều này tạo cho khách hàng cảm giác tin tưởng khi mua sản phẩm, dịch vụ từ bạn.
Quảng bá sản phẩm và dịch vụ. Bạn có thể bán hàng trực tiếp từ blog hay giới thiệu những sản phẩm mới trên blog và kéo khách hàng về website.
Tạo thêm nguồn thu. Ngày nay có rất nhiều chương trình quảng cáo như Google Adsense cho phép bạn kiếm tiền từ chính blog của mình.

3 lời khuyên khi tạo blog kinh doanh

Nội dung hấp dẫn. Nếu nội dung không hấp dẫn và liên quan tới khách hàng tiềm năng, blog của bạn sẽ thất bại. Nội dung có thể là những bài báo trong ngành, cập nhật thông tin mới nhất về sản phẩm, phỏng vấn hay quan điểm Cá nhân về những chủ đề quan trọng với khách hàng của bạn.
Cập nhật thường xuyên. Tôi không nói dối bạn đâu, có nhiều lúc tôi không tìm ra thời gian rảnh để post bài mới. Nhưng nếu không post, sẽ không có ai tới. Việc này cũng giống như đăng kí nhận báo hàng ngày và chỉ nhận được 1 bản 1 ngày mà thôi. Hãy cập nhật thường xuyên rồi khách hàng sẽ quay trở lại. Hãy nhớ rằng thuờng xuyên cập nhật những bài viết mới sẽ tăng hạng của blog trên các công cụ tìm kiếm.
Phong cách riêng. Blog không phải là nơi dành cho sự trang trọng như website. Nó cũng như là diễn đàn, nơi bạn có thể thoải mái trao đổi ý tưởng và tham gia tranh luận. Cũng không cần bạn có khả năng viết xuất sắc, chỉ cần đặt mình vào vị trí khách hàng và cho họ những nội dung hữu ích.
Tạo blog rất dễ, nhưng biến nó thành công cụ giúp tăng lượng truy cập vào website và tăng doanh số bán hàng hoàn toàn là một câu chuyện khác. Xây dựng được một blog có thể giữ chân khách hàng cần nhiều thời gian và công sức. Hãy tạo ngay cho mình một blog thật hiệu quả!
(Hoàng Quân -
Theo Marketingchienluoc/Entrepreneur)

Nhà Marketing Online hiệu quả

Không như truyền thanh hay truyền hình, internet dường như là một sân chơi mới cho các hãng quảng cáo. Với những khách hàng thông minh biết rõ phải làm thế nào để ngăn chặn quảng cáo, nhiều công ty ngày nay đang phải vật lộn tìm kiếm những cách thức mới để kinh doanh sản phẩm trực tuyến hiệu quả hơn.

Xem thêm >>Dịch vụ Quảng cáo trên Google



Chỉ cần bạn có tiền, bạn có thể mua hầu như tất cả mọi thứ trên Internet cùng với đó là những trải nghiệm thú vị. Kinh doanh trực tuyến được dự báo là sẽ thay thế các phương thức kinh doanh thông thường vốn đang bộc lộ nhiều nhược điểm khiến khách hàng phàn nàn.

Mới đây, các nhà sản xuất loạt phim truyền hình Lost nổi tiếng đã tạo ra một trò chơi trực tuyến phỏng theo chương trình truyền hình của họ. Những quảng cáo cho trò chơi lan toả khắp thế giới Internet, liên quan tới các website giả định cho các công ty giả định, cũng như các cuộc phỏng vấn và quảng bá giả định rồi sau đó trải rộng ra một cộng đồng lớn như YouTube. Một vài trang web trò chơi thậm chí còn thu hút các nhà tài trợ lớn, với hy vọng chiến dịch quảng cáo cho trò chơi sẽ lôi kéo đông đảo mọi người đến với họ.

Đôi lúc bạn có thể tạo ra những cuộc tranh luận trực tuyến một cách tình cờ. Bộ phim mới “Snakes on a Plane” (Rắn trên máy bay) đã lựa chọn một chiến dịch quảng cáo trực tuyến rộng khắp, thậm chí cả trước khi bộ phim được khởi quay. Chiến dịch này bao gồm rất nhiều quảng cáo lôi kéo, các lời chào mời khuyến mãi… Nhưng thay vì né tránh những kiểu quảng cáo cường điệu không dự tính trước, hãng phim đã theo đuổi phương cách này – thậm chí còn kết hợp vào bộ phim một vài đoạn kịch bản mà những người hâm mộ đề xuất. Đương nhiên, sự tham gia của giới hâm mộ cũng như các chương trình truyền hình và phim ảnh hoàn toàn có thể thu hút sự chú ý của mọi người để rồi khi tung ra thị trường, bộ phim sẽ đạt kết quả tối đa.

Chứng thực blogger


Có thể nói, mọi sản phẩm/dịch vụ đều cần sự trợ giúp của các chiến dịch quảng cáo, tiếp thị. Một vài hãng quảng cáo đã quan tâm tới việc tranh thủ sự trợ giúp của các blog phổ biến để truyển tải rộng rãi thông điệp họ mong muốn.

Cái gọi là blogvertising (quảng cáo blog) bao gồm việc trả tiền cho các bloggers nổi tiếng để họ chứng thực chất lượng sản phẩm, tuy nhiên không thể bỏ qua yếu tố đặc trưng và nội dung của blog. Hiện nay, khi blog phát triển với tốc độ chóng mặt, thì phương thức quảng cáo trên blog cũng ngày một nở rộ.

Quảng cáo overlay


Trong một trang web, nơi mà các cửa sổ pop-up quảng cáo bị khoá, thì cách thức hiệu quả nhất là cần tạo ra các quảng cáo chạy ngay trên trang web. Các cửa sổ pop-up đang dần dần được thay thế bằng các overlays (quảng cáo che phủ) có thể được thực hiện trực tiếp ngay trên toàn bộ trang web. Overlays không thể bị khoá theo cùng cách với pop-up, bởi vì chúng được thiết kế gắn liền với trang web. Nó chỉ được đóng lại khi bạn tìm thấy nút đóng, nếu tồn tại một cái nút như thế trên quảng cáo.

Quảng cáo tìm kiếm


Có một khu vực vô cùng rộng lớn cho các quảng cáo trực tuyến mà không cần đến hình ảnh sinh động hay các ý tưởng sáng tạo. Đó chính là việc trả tiền cho các hãng tìm kiếm trực tuyến để đưa mọi người đến với trang web của bạn khi họ gõ một từ khoá tìm kiếm nào đó.

Đây được xem là bí mật ẩn giấu của các quảng cáo trực tuyến. Đây là một cách thức phát huy hiệu quả rất lớn. Lý do là nếu bạn tìm kiếm một vài thứ gì đó trên Yahoo! hay Google có nghĩa là bạn thật sự mong muốn có được nó, và các công ty cũng muốn đưa quảng cáo trực tiếp tới bạn. Do đó, quảng cáo tìm kiếm đang trở thành một khu vực thu hút sự quan tâm của đông đảo các công ty, và nhiều hãng quảng cáo đang tìm kiếm cách thức để khách hàng nhìn thấy rõ những kết quả của quảng cáo tìm kiếm.

Các nhà tiếp thị có thể trả tiền để được có mặt tại khu vực phía tay phải của trang Google. Đó là quảng cáo trả tiền, hay còn được gọi là quảng cáo pay-for-click. Tuy nhiên, khu vực lý tưởng nhất là ở trung tâm của các kết quả tìm kiếm, và cách thức để có được kết quả này là thông qua việc tối ưu hoá công cụ tìm kiếm, như bổ sung kỹ năng biên tập nội dung, các đường link…

Tiếp thị xã hội


Quảng cáo tìm kiếm là nơi mà phần lớn tiền bạc dành cho quảng cáo trực tuyến được chi tiêu, không ít trong số đó đã giúp Google đàm phán thoả thuận trị giá 900 triệu USD để trở thành đối tác tìm kiếm trực tuyến cho trang web MySpace.

Tiếp thị xã hội sẽ đem lại cho các nhà quảng cáo khả năng tiếp cận tới một thị trường trẻ tuổi vô cùng hấp dẫn. Người sử dụng MySpace thường bỏ qua các quảng cáo truyền thống và gặp gỡ nhau để thảo luận về các xu hướng và sở thích mới nhất, cũng như tự xây dựng các quảng cáo của riêng họ. Nếu tiếp cận đối tượng này, các hãng quảng cáo sẽ có được sự phổ biến rộng rãi với tốc độ lan truyền nhanh chóng, điều mà không thể có được với các quảng cáo pop-up.

Khi đến với hoạt động quảng cáo trực tuyến, bạn không thể đánh giá thấp hiệu quả các mạng lưới xã hội. Hàng triệu người sử dụng đang xây dựng nhiều cộng đồng khác nhau trong hệ thống mạng lưới của họ. Họ mở rộng ra toàn cầu, họ phát triển không ngừng, họ to lớn, mạnh mẽ, và họ là những mục tiêu hấp dẫn cho các nhà tiếp thị nếu biết cách giao tiếp với họ như thế nào.

Tóm lại, Internet và web giờ đây đang là phương thức quảng cáo phát triển nhanh chóng nhất. Với số lượng trang web khổng lồ, cơ hội quảng cáo là vô cùng hấp dẫn. Các hãng quảng cáo luôn hy vọng rằng với những chiến lược quảng cáo mới trong kỷ nguyên Internet, họ sẽ tiếp cận số lượng lớn khách hàng một cách hiệu quả và nhanh chóng hơn. Bằng không, tất cả các nỗ lực đầu tư kinh doanh sáng tạo của họ sẽ trở nên lãng phí.

CEOHCM

Maketing online - truyền thông trực tuyến giá rẻ

Kính gửi: Quý khách hàng
Marketing online là hình thức quảng cáo trên mạng, quảng cáo trên cộng đồng mạng nhằm thúc đẩy xúc tiến việc bán hàng, quảng bá thương hiệu, hình ảnh, dịch vụ của công ty đến với khách hàng.
Internet Marketing, Email Marketing, Quảng cáo trên mạng... là những ngôn ngữ thường gặp và đây cũng chính là hình thức Marketing online hay còn gọi là quảng cáo trực tuyến (E-marketing).


Đặc điểm của Marketing Online

Đặc điểm cơ bản của hình thức Marketing online là khách hàng có thể tương tác với quảng cáo, có thể click chuột vào quảng cáo để mua hàng, để lấy thông tin về sản phẩm hoặc có thể so sánh sản phẩm này với sản phẩm khác, nhà cung cấp này với nhà cung cấp khác…

Marketing online sẽ giúp cho nhà cung cấp có thể lựa chọn được khách hàng mục tiêu và tiềm năng mà doanh nghiệp muốn hướng tới từ đó giúp doanh nghiệp cắt giảm được nhiều chi phí, nâng cao hiệu quả của công việc kinh doanh. Đây là đặc điểm cơ bản nhất mà các loại hình quảng cáo khác không có được như: quảng cáo Tivi, Raddio, báo giấy...


Hiệu quả của Marketing Online

Hiệu quả của Marketing online mang lại là vô cùng lớn ngay khi mà Internet đã chiếm lĩnh thị trường, chỉ cần một vài lần click chuột là bất cứ đâu trên thế giới này bạn cũng có thể biết thông tin của bất kỳ sản phẩm, dịch vụ hay như các thông tin mà bạn muốn.

Việc quảng cáo trên mạng sẽ giúp bạn lựa chọn định vị được khách hàng tiềm năng, khách hàng mục tiêu do đó sẽ tiết kiệm rất nhiều chi phí giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả trong việc kinh doanh.

Thêm vào đó hiện nay số người sử dụng Internet đang tăng với tốc độ rất nhanh, do đó quảng cáo hay kinh doanh trên mạng (thương mại điện tử) sẽ là một lựa chọ tốt nhất cho doanh nghiệp.

Marketing-Online1 1    Quảng cáo website mua bán..................................................100 website
2    Up  tin mới 100 website mua bán 02 lần / ngày (Đầu giờ sáng & đầu giờ chiều)
3    Quảng cáo diễn đàn có mục mua bán, quảng cáo...................300 diễn đàn
4    Up  tin mới 300 diễn đàn mua bán 02 lần / ngày (Đầu giờ sáng & đầu giờ chiều)
5    Quảng cáo công cu tìm kiếm Google (24/24h) từ 1-3 từ khóa, không giới hạn xuất hiện & truy cập


Marketing-Online2
1    Quảng cáo website mua bán...................................................100 website
2    Quảng cáo diễn đàn có mục mua bán, quảng cáo....................300 diễn đàn
3    Quảng cáo công cụ tìm kiếm Google(24/24h) từ 5x2 = 10 từ khóa, không giới hạn xuất hiện & truy cập
4    Quảng cáo email marketing......................................................10.000 email
6    Quảng cáo trên Facebook (1 mẫu)
7    Gửi tin nhắn riêng cho các thành viên các diễn đàn nổi tiếng……...10.000 sms
8    Úp tin lên 50 diễn đàn tùy chọn, mỗi ngày 10 lần / 1 diễn đàn
9    Úp tin lên 100 website tùy chọn, mỗi ngày 1 lần / 1 website

Marketing-Online3
1    Quảng cáo website mua bán...................................................100 website x 10 lần 2    Quảng cáo diễn đàn có mục mua bán, quảng cáo....................300 diễn đàn x 10 lần
3    Quảng cáo công cụ tìm kiếm Google(24/24h) từ 5x2 = 10 từ khóa, không giới hạn xuất hiện & truy cập
4    Quảng cáo email marketing.......................................................20.000 email
6    Quảng cáo trên Facebook (1 mẫu)
7    Gửi tin nhắn riêng cho các thành viên các diễn đàn nổi tiếng……...20.000 sms
8    Up tin lên 50 diễn đàn tùy chọn, mỗi ngày 10 lần / 1 diễn đàn
9    Up tin lên 100 website tùy chọn, mỗi ngày 1 lần / 1 website

-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------